Chuyển đổi số

Theo Luật Chuyển đổi số 2025, ngành tang lễ và nghĩa trang xử lý những nhóm dữ liệu nào?

Theo Luật Chuyển đổi số 2025, ngành tang lễ và nghĩa trang xử lý những nhóm dữ liệu nào?
Bài tổng quan: ngành tang lễ và nghĩa trang nắm giữ bốn nhóm dữ liệu rất khác nhau về mức nhạy cảm. Bài viết phân loại chúng, nêu khung pháp lý chung và dẫn tới ba bài chuyên sâu theo từng loại đơn vị.

Ngành tang lễ và nghĩa trang đang số hóa nhanh hơn nhiều người hình dung: sổ tang điện tử, bản đồ mộ phần tra cứu trực tuyến, hợp đồng dịch vụ trả trước quản lý bằng phần mềm, trang tưởng niệm có thể thắp hương từ xa.

Đi kèm là một câu hỏi ít được đặt ra: những hệ thống này đang giữ dữ liệu gì, và pháp luật nào điều chỉnh chúng?

Bài viết này là bài tổng quan. Nó phân loại các nhóm dữ liệu của ngành, nêu khung nghĩa vụ chung theo Luật Chuyển đổi số số 148/2025/QH15, rồi dẫn tới ba bài phân tích sâu theo từng loại đơn vị.

Bốn nhóm dữ liệu của ngành

Mức nhạy cảm của bốn nhóm này rất khác nhau, và cách xử lý cũng phải khác nhau.

Nhóm một — thông tin về người đã mất. Họ tên, ngày sinh, ngày mất, nguyên nhân tử vong, quê quán, tôn giáo, ảnh chân dung. Trong đó nguyên nhân tử vong là thông tin y tế và cần được xử lý ở mức bảo mật cao nhất, kể cả khi người đó đã mất.

Nhóm hai — thông tin về gia quyến. Danh sách thân nhân, quan hệ với người mất, số điện thoại, địa chỉ, người đứng ra lo liệu, đôi khi cả mâu thuẫn nội bộ gia đình mà nhân viên nghe được trong quá trình phục vụ. Đây là dữ liệu về người đang sống, và họ là chủ thể dữ liệu đầy đủ.

Nhóm ba — dữ liệu tài chính và hợp đồng. Giá trị dịch vụ, hình thức thanh toán, hợp đồng mộ phần trả trước có thể kéo dài hàng chục năm, tiền phúng viếng khi thu qua kênh điện tử. Nhóm này còn có đặc điểm là tồn tại rất lâu.

Nhóm bốn — hình ảnh và không gian tưởng niệm. Ảnh chụp tang lễ, video, hình ảnh mộ phần, nội dung người thân viết trên trang tưởng niệm, danh sách người đến viếng. Nhóm này thường bị coi nhẹ nhất nhưng lại là nhóm hay bị đưa lên mạng nhất.

Vì sao dữ liệu ngành này khác các ngành dịch vụ khác

Ba đặc điểm khiến ngành này không thể áp dụng nguyên xi cách làm của một doanh nghiệp dịch vụ thông thường.

Khách hàng ở trạng thái không bình thường. Gia đình đang chịu tang, phải ra quyết định nhanh trong lúc suy sụp. Mọi thứ ký trong hoàn cảnh đó — gồm cả các điều khoản về sử dụng hình ảnh — cần được đối xử thận trọng hơn mức thông thường.

Dữ liệu tồn tại rất lâu. Một hợp đồng mộ phần có thể kéo dài 50 năm hoặc hơn. Hệ thống lưu nó sẽ đổi nhiều lần, đơn vị vận hành có thể đổi chủ. Câu hỏi ai chịu trách nhiệm về dữ liệu sau 20 năm là câu hỏi thật.

Ranh giới giữa tưởng niệm và thương mại rất mỏng. Một trang tưởng niệm có thể là dịch vụ nhân văn, cũng có thể trở thành nơi bán dịch vụ cho những người đang truy cập vì lý do tình cảm.

Khung pháp lý áp dụng

Điều 4 Luật 148/2025/QH15 liệt kê các hoạt động chuyển đổi số. Khoản 4 Điều 4 gồm số hóa thông tin, dữ liệu, tài liệu; số hóa quy trình; đổi mới, tái cấu trúc quy trình, mô hình tổ chức và phương thức hoạt động cùng việc phát triển và cung cấp dịch vụ công trực tuyến, dịch vụ số, ứng dụng khác trong hoạt động quản lý nhà nước, sản xuất, kinh doanh và đời sống xã hội. Khoản 3 Điều 4 gồm xây dựng, phát triển, bảo vệ, quản trị, xử lý, sử dụng dữ liệu.

Số hóa sổ nghĩa trang, đưa hợp đồng lên phần mềm, mở trang tưởng niệm — tất cả nằm trong phạm vi này.

Nghĩa vụ nền là Khoản 1 Điều 27: cơ quan, tổ chức, cá nhân tham gia hoặc có liên quan đến hoạt động chuyển đổi số phải tuân thủ quy định của pháp luật về an ninh mạng, dữ liệu, bảo vệ dữ liệu cá nhân, bí mật nhà nước và pháp luật khác có liên quan; và chủ quản dữ liệu phải chủ động thiết lập quy trình, biện pháp bảo vệ dữ liệu phù hợp với tính chất hoạt động và phương thức đáp ứng yêu cầu của chủ thể dữ liệu.

Chữ "chủ động" đáng chú ý: đơn vị không chờ có yêu cầu mới làm, mà phải tự thiết lập quy trình trước.

Với đơn vị vận hành trang tưởng niệm hoặc cổng dịch vụ trực tuyến, Khoản 1 Điều 38 bổ sung nghĩa vụ công khai, minh bạch quy tắc ứng xử, điều khoản, điều kiện sử dụng, cơ chế tiếp nhận, giải quyết khiếu nại và chính sách bảo vệ quyền lợi người sử dụng, và Khoản 2 Điều 38 buộc thiết lập biện pháp kỹ thuật và quy trình quản lý để phát hiện, ngăn chặn, gỡ bỏ thông tin, nội dung vi phạm pháp luật, trái thuần phong mỹ tục hoặc gây hại cho người sử dụng.

Về phía gia đình, Khoản 1 Điều 41 khẳng định quyền con người, quyền công dân được công nhận, tôn trọng, bảo vệ và không bị phủ nhận chỉ vì được thực hiện trên môi trường số, và Khoản 5 Điều 41 cho họ quyền được cung cấp thông tin đầy đủ, rõ ràng, chính xác, minh bạch, kịp thời về điều khoản, điều kiện sử dụngkhông bị áp đặt điều kiện bất hợp lý.

Ba ranh giới không được vượt

Điều 5 liệt kê các hành vi bị nghiêm cấm. Ba khoản sau áp thẳng vào những vấn đề có thật của ngành.

Khoản 3 Điều 5 cấm thu thập, sử dụng, chia sẻ, mua, bán, khai thác dữ liệu số trái quy định của pháp luật. Trong ngành này, hành vi nghiêm trọng nhất là mua bán thông tin ca tử vong để tiếp cận gia đình trước đối thủ. Kế đó là bán danh sách thân nhân cho đơn vị bán bảo hiểm, dịch vụ tâm linh, đất nghĩa trang.

Khoản 4 Điều 5 cấm lợi dụng chuyển đổi số để lừa đảo, thao túng, trục lợi, xâm phạm quyền và lợi ích hợp pháp của cơ quan, tổ chức, cá nhân. Dùng dữ liệu để nhắm quảng cáo vào gia đình đang tang gia, hoặc tạo áp lực tâm lý qua thông báo tự động, rơi vào khoản này.

Khoản 2 Điều 5 cấm truy cập, can thiệp trái phép, làm sai lệch, vô hiệu hóa, gây tổn hại đến hệ thống số, dữ liệu số, nền tảng số và dịch vụ số. Với dữ liệu mộ phần tồn tại hàng chục năm, việc sửa sai lệch bản ghi có hậu quả rất khó khắc phục.

Ba loại đơn vị và bài phân tích riêng

Bốn nhóm dữ liệu ở trên phân bố không đều. Mỗi loại đơn vị nắm một tổ hợp khác nhau, nên nghĩa vụ trọng tâm cũng khác nhau.

Đơn vị quản lý nghĩa trang nắm nhóm một và nhóm ba là chính, với đặc thù dữ liệu tồn tại rất lâu và có chức năng tra cứu công khai. Vấn đề riêng: cân bằng giữa tiện lợi cho thân nhân và bảo vệ thông tin, xác minh quan hệ thân nhân khi có yêu cầu tra cứu.

Công ty dịch vụ tang lễ nắm nhóm hai và nhóm bốn là chính. Vấn đề riêng và nghiêm trọng nhất: nguồn thông tin về ca tử vong lấy từ đâu, và minh bạch giá trong hoàn cảnh gia đình không có điều kiện so sánh.

Đơn vị quản lý nhà tang lễ bệnh viện đứng ở vị trí đặc biệt vì gắn với cơ sở y tế. Vấn đề riêng: bảo mật thông tin ca tử vong ngay tại nguồn và quy trình bàn giao giữa bệnh viện với gia đình.

Danh sách kiểm tra chung

  • Đơn vị đã liệt kê được mình đang giữ những nhóm dữ liệu nào chưa?
  • Nguyên nhân tử vong có được xử lý ở mức bảo mật cao hơn thông tin thường không?
  • Thông tin ca tử vong có đến từ nguồn hợp pháp không?
  • chia sẻ danh sách thân nhân cho đơn vị khác không?
  • Điều khoản sử dụng hình ảnh có tách riêng khỏi hợp đồng dịch vụ không?
  • Hợp đồng dài hạn có nêu rõ ai chịu trách nhiệm về dữ liệu nếu đơn vị đổi chủ không?
  • Trang tưởng niệm có công cụ gỡ nội dung vi phạm không?

Đọc thêm cùng chủ đề

Căn cứ pháp lý

  • Luật 148/2025/QH15 Điều 4
  • Luật 148/2025/QH15 Điều 5
  • Luật 148/2025/QH15 Điều 27
  • Luật 148/2025/QH15 Điều 38
  • Luật 148/2025/QH15 Điều 41

Bài viết dẫn chiếu văn bản đang có hiệu lực. Nội dung mang tính tham khảo, không thay thế ý kiến tư vấn cho từng trường hợp cụ thể.

Bình luận (0)

Chưa có bình luận nào. Hãy là người đầu tiên chia sẻ ý kiến.

Để lại bình luận

Email không hiển thị công khai.
Đánh giá