Ba nhóm vấn đề: dữ liệu học viên, ứng dụng công cụ hỗ trợ đánh giá, và bảo vệ người học chưa thành niên trên nền tảng.
Trung tâm đào tạo, cơ sở giáo dục ngoài công lập và các nền tảng học trực tuyến có đặc thù: học viên nhiều độ tuổi, dữ liệu học tập chi tiết, và ngày càng nhiều công cụ tự động hỗ trợ giảng dạy.
Giáo dục thuộc nhóm lĩnh vực được quản lý chặt
Khoản 2 Điều 6 Luật Trí tuệ nhân tạo 134/2025/QH15 quy định với các lĩnh vực thiết yếu, việc ứng dụng trí tuệ nhân tạo phải được quản lý rủi ro ở mức độ chặt chẽ hơn, phù hợp với đặc thù của từng lĩnh vực. Điểm b khoản 2 nêu ba yêu cầu riêng cho lĩnh vực giáo dục:
- Bảo đảm phù hợp với đặc điểm lứa tuổi và sự phát triển của người học;
- Phòng ngừa rủi ro trong đánh giá, phân loại và tác động đến người học;
- Bảo đảm an toàn dữ liệu và quyền riêng tư.
Điểm a khoản 1 Điều 35 cũng xếp giáo dục vào nhóm được thời hạn chuyển tiếp 18 tháng — dài hơn 12 tháng của các lĩnh vực khác.
Vấn đề thứ nhất — dữ liệu học viên
Nền tảng học trực tuyến thu thập dữ liệu chi tiết hơn lớp học truyền thống nhiều: thời gian học, tiến độ, số lần xem lại bài, kết quả từng câu hỏi, và trong một số trường hợp cả hình ảnh và giọng nói khi học trực tuyến.
Khoản 1 Điều 27 Luật Chuyển đổi số 148/2025/QH15 quy định chủ quản dữ liệu phải chủ động thiết lập quy trình, biện pháp bảo vệ dữ liệu phù hợp với tính chất hoạt động và phương thức đáp ứng yêu cầu của chủ thể dữ liệu.
Khoản 3 Điều 7 Luật 134/2025/QH15 nghiêm cấm thu thập, xử lý hoặc sử dụng dữ liệu để phát triển, huấn luyện, kiểm thử hoặc vận hành hệ thống trí tuệ nhân tạo trái với quy định của pháp luật về dữ liệu, bảo vệ dữ liệu cá nhân, sở hữu trí tuệ và an ninh mạng.
Ba câu hỏi cần trả lời:
- Có ghi hình, ghi âm buổi học không? Nếu có, cần thông báo rõ và có căn cứ. Điểm đ khoản 1 Điều 15 Luật An ninh mạng 116/2025/QH15 nêu hành vi cố ý nghe, ghi âm, ghi hình trái phép các cuộc đàm thoại;
- Dữ liệu học tập có được dùng để huấn luyện mô hình không?
- Dữ liệu có được chia sẻ với bên thứ ba không? Khoản 3 Điều 5 Luật 148/2025/QH15 nghiêm cấm thu thập, sử dụng, chia sẻ, mua, bán, khai thác dữ liệu số trái quy định.
Với học viên chưa thành niên, cần có sự tham gia của người giám hộ theo pháp luật về bảo vệ dữ liệu cá nhân.
Vấn đề thứ hai — công cụ hỗ trợ đánh giá
Chấm bài tự động, gợi ý lộ trình học, phân nhóm theo năng lực đều là hệ thống trí tuệ nhân tạo theo khoản 2 Điều 3 Luật 134/2025/QH15.
Yêu cầu tại điểm b khoản 2 Điều 6 — phòng ngừa rủi ro trong đánh giá, phân loại và tác động đến người học — áp dụng trực tiếp.
Rủi ro cụ thể: học viên bị phân loại vào nhóm năng lực thấp nhận lộ trình ít thách thức hơn, dẫn tới kết quả thấp hơn, xác nhận phân loại ban đầu. Vòng lặp này khiến sai sót ban đầu tự củng cố.
Biện pháp:
- Không dùng kết quả tự động làm căn cứ duy nhất để phân lớp hoặc quyết định lộ trình;
- Giáo viên xem lại với các trường hợp ở ngưỡng hoặc có kết quả bất thường;
- Đánh giá lại định kỳ thay vì phân loại một lần;
- Có cơ chế khiếu nại cho học viên và phụ huynh;
- Kiểm tra sai lệch theo nhóm — theo vùng miền, điều kiện gia đình, độ tuổi.
Khoản 2 Điều 4 nêu nguyên tắc: trí tuệ nhân tạo phục vụ con người, không thay thế thẩm quyền và trách nhiệm của con người; bảo đảm duy trì sự kiểm soát và khả năng can thiệp của con người đối với mọi quyết định và hành vi của hệ thống.
Nghĩa vụ minh bạch
Nếu nền tảng có trợ lý học tập tự động tương tác với học viên, khoản 1 Điều 11 yêu cầu bảo đảm người sử dụng nhận biết khi đang tương tác với hệ thống trí tuệ nhân tạo. Với học viên nhỏ tuổi, việc này càng quan trọng.
Nếu nội dung học liệu được tạo bằng công cụ tạo sinh, khoản 3 Điều 11 áp dụng khi nội dung có khả năng gây nhầm lẫn về tính xác thực của sự kiện, nhân vật — chẳng hạn hình ảnh minh họa nhân vật lịch sử hoặc mô phỏng sự kiện có thật.
Vấn đề thứ ba — bảo vệ người học chưa thành niên
Khoản 1 Điều 43 Luật 148/2025/QH15 quy định: quyền của trẻ em được bảo vệ, bảo đảm an toàn, lành mạnh trên môi trường số ngay từ giai đoạn thiết kế sản phẩm và dịch vụ số.
Khoản 3 Điều 43 đặt trách nhiệm lên gia đình, nhà trường: chủ động giáo dục, hướng dẫn trẻ em về năng lực số và hành vi ứng xử trên môi trường số; giám sát thời gian, nội dung truy cập và lựa chọn cho phép các hoạt động trực tuyến của trẻ em.
Để nhà trường và gia đình thực hiện được nghĩa vụ này, nền tảng phải cung cấp công cụ: quản lý thời gian sử dụng, kiểm soát nội dung theo độ tuổi, và báo cáo hoạt động cho người giám hộ.
Khoản 4 Điều 43 quy định sản phẩm nội dung số mang nội dung không có lợi cho trẻ em phải có dấu hiệu cảnh báo.
Khoản 2 Điều 43 giao Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang Bộ ban hành và tổ chức thực hiện tiêu chuẩn, quy chuẩn kỹ thuật đối với sản phẩm, dịch vụ bảo vệ trẻ em trên môi trường số — văn bản cần theo dõi.
Nội dung do người dùng đăng
Nền tảng có diễn đàn, phần bình luận, hoặc khu vực học viên chia sẻ bài làm thuộc phạm vi khoản 2 Điều 27 Luật 148/2025/QH15: chủ quản có trách nhiệm xây dựng công cụ để chủ động sàng lọc, phát hiện, thông báo, xử lý nhằm bảo vệ người sử dụng khỏi các nội dung xấu, độc hại, thông tin vi phạm pháp luật, tin giả, nội dung lừa đảo.
Với môi trường có người học chưa thành niên, mức độ sàng lọc cần cao hơn nền tảng thông thường.
Khoản 1 Điều 38 Luật 148/2025/QH15 cũng yêu cầu công khai, minh bạch quy tắc ứng xử, điều khoản, điều kiện sử dụng, cơ chế tiếp nhận, giải quyết khiếu nại và chính sách bảo vệ quyền lợi người sử dụng.
Liêm chính học thuật
Khoản 3 Điều 6 Luật 134/2025/QH15 quy định việc ứng dụng trí tuệ nhân tạo trong hoạt động nghiên cứu khoa học phải bảo đảm đạo đức nghiên cứu, liêm chính khoa học và phòng ngừa hành vi gian lận, đạo văn trong quá trình nghiên cứu và công bố kết quả.
Với cơ sở đào tạo, nội dung này nên được đưa vào quy chế học vụ: quy định rõ phạm vi được phép sử dụng công cụ trong bài tập và khóa luận, nghĩa vụ khai báo, và hậu quả khi vi phạm.
Cách tiếp cận thực dụng hơn việc cấm hoàn toàn: hướng dẫn học viên sử dụng công cụ như một phương tiện hỗ trợ học tập, kèm yêu cầu minh bạch về việc đã sử dụng.
Chính sách khuyến khích
Khoản 3 Điều 23 Luật 134/2025/QH15 quy định cơ sở giáo dục nghề nghiệp và giáo dục đại học được khuyến khích xây dựng chương trình đào tạo về trí tuệ nhân tạo, khoa học dữ liệu và các chuyên ngành liên quan; khuyến khích hợp tác với doanh nghiệp, viện nghiên cứu và tổ chức quốc tế trong đào tạo, thực tập, nghiên cứu và chuyển giao công nghệ.
Khoản 5 Điều 23 quy định tổ chức, cơ sở đào tạo, viện nghiên cứu và doanh nghiệp tham gia phát triển nhân lực trí tuệ nhân tạo được hưởng cơ chế khuyến khích và ưu đãi theo quy định của pháp luật, đồng thời có trách nhiệm phối hợp trong đào tạo, nghiên cứu ứng dụng và thực hành nghề nghiệp, gắn đào tạo với nhu cầu thực tiễn.
Với Luật Công nghiệp công nghệ số 71/2025/QH15, điểm đ khoản 1 Điều 18 nêu chính sách hỗ trợ đầu tư cơ sở vật chất bao gồm thiết bị đào tạo, phòng thí nghiệm, bản quyền phần mềm, nền tảng số dùng chung và công cụ kỹ thuật cần thiết khác phục vụ đào tạo nhân lực công nghiệp công nghệ số.
Điểm d khoản 1 Điều 18 cũng nêu phát triển nền tảng dạy và học trực tuyến mở, mô hình đào tạo công nghệ số thích ứng với quá trình chuyển đổi số, đào tạo liên ngành kết hợp giữa công nghệ số và các ngành, lĩnh vực khác.
Danh mục việc cần làm
- Kiểm kê các công cụ tự động đang dùng trong giảng dạy và đánh giá;
- Xác định công cụ nào tham gia vào đánh giá, phân loại người học;
- Ban hành quy chế nêu rõ vai trò hỗ trợ của công cụ và thẩm quyền của giáo viên;
- Rà soát việc ghi hình, ghi âm buổi học và căn cứ thực hiện;
- Rà soát đường đi của dữ liệu học viên;
- Bổ sung công cụ giám sát cho phụ huynh với học viên chưa thành niên;
- Thiết lập cơ chế sàng lọc nội dung do người dùng đăng;
- Công khai quy tắc ứng xử và cơ chế khiếu nại;
- Đưa quy định về liêm chính học thuật vào quy chế;
- Theo dõi tiêu chuẩn, quy chuẩn về sản phẩm bảo vệ trẻ em trên môi trường số;
- Hoàn tất tuân thủ trước 01/9/2027 với hệ thống triển khai trước 01/3/2026.
Đọc thêm cùng chủ đề
- Kết quả thủ tục hành chính có bắt buộc phải có bản điện tử?
- Mức độ chuyển đổi số được đo lường và xếp hạng thế nào?
- Chiến lược quốc gia về trí tuệ nhân tạo được cập nhật bao lâu một lần?
Căn cứ pháp lý
- Luật 134/2025/QH15 Điều 6
- Luật 148/2025/QH15 Điều 43
- Luật 148/2025/QH15 Điều 27
Bài viết dẫn chiếu văn bản đang có hiệu lực. Nội dung mang tính tham khảo, không thay thế ý kiến tư vấn cho từng trường hợp cụ thể.
Bình luận (0)
Chưa có bình luận nào. Hãy là người đầu tiên chia sẻ ý kiến.