Chuyển đổi số

Theo Luật Chuyển đổi số 2025, hạ tầng số công cộng gồm những gì và doanh nghiệp khai thác ra sao?

Theo Luật Chuyển đổi số 2025, hạ tầng số công cộng gồm những gì và doanh nghiệp khai thác ra sao?
Bốn hạ tầng số công cộng tại khoản 2 Điều 22 — được quản lý theo quy tắc mở, an toàn, minh bạch và bảo đảm quyền tiếp cận bình đẳng.

Bên cạnh nghĩa vụ, Luật Chuyển đổi số 148/2025/QH15 mở ra một tuyến hạ tầng dùng chung mà doanh nghiệp có thể khai thác thay vì tự xây. Bài viết tổng hợp các thành phần và cách tiếp cận.

Hạ tầng số công cộng là gì

Khoản 3 Điều 3 Luật 148/2025/QH15 định nghĩa: hạ tầng số công cộng bao gồm nền tảng số và dịch vụ số dùng chung do Nhà nước đầu tư, quản lý hoặc bảo đảm vận hành; được xây dựng theo nguyên tắc mở, tiêu chuẩn và khả năng tương thích cao nhằm phục vụ lợi ích công cộng; có khả năng kết nối, tích hợp và liên thông an toàn trong nước, khu vực và quốc tế.

Ba đặc điểm: do Nhà nước đầu tư, quản lý hoặc bảo đảm vận hành; xây dựng theo nguyên tắc mở và tiêu chuẩn; và phục vụ lợi ích công cộng.

Khoản 2 Điều 3 định nghĩa hạ tầng số rộng hơn: tập hợp các hệ thống kỹ thuật, kết nối, điện toán, lưu trữ và các thành phần công nghệ số bảo đảm cho hoạt động trên môi trường số, bao gồm cơ sở hạ tầng viễn thông, hạ tầng trung tâm dữ liệu, điện toán đám mây và hạ tầng truyền dẫn cho kết nối máy tới máy.

Khoản 1 Điều 22 xác định: hạ tầng chuyển đổi số là hạ tầng để chuyển đổi số toàn diện, phục vụ việc sản xuất, truyền đưa, thu thập, xử lý, lưu trữ và trao đổi dữ liệu số. Hạ tầng chuyển đổi số bao gồm hạ tầng số và hạ tầng số công cộng.

Bốn thành phần được Nhà nước thống nhất quản lý

Khoản 2 Điều 22 quy định Nhà nước thống nhất quản lý, vận hành theo các quy tắc mở, an toàn, minh bạch và bảo đảm quyền tiếp cận bình đẳng đối với:

  • Điểm ađịnh danh và xác thực điện tử theo pháp luật về căn cước;
  • Điểm bhạ tầng thanh toán số do Nhà nước quản lý, vận hành;
  • Điểm cnền tảng kết nối, tích hợp, chia sẻ, điều phối dữ liệu cấp quốc gia;
  • Điểm dhạ tầng chứng thực điện tử quốc gia.

Cam kết "bảo đảm quyền tiếp cận bình đẳng" là điểm đáng ghi nhận với doanh nghiệp: các hạ tầng này không dành riêng cho một nhóm đơn vị nào.

Ý nghĩa thực tế của từng thành phần

Định danh và xác thực điện tử — doanh nghiệp không phải tự xây hệ thống xác minh danh tính khách hàng. Điều này giảm đáng kể chi phí và rủi ro: dữ liệu định danh không phải lưu trữ tại doanh nghiệp thì cũng không có rủi ro làm lộ.

Hạ tầng thanh toán số — hạ tầng dùng chung cho các giao dịch thanh toán.

Nền tảng kết nối, chia sẻ dữ liệu cấp quốc gia — kênh để hệ thống của doanh nghiệp kết nối với dữ liệu của cơ quan nhà nước khi có căn cứ, phục vụ việc xác minh thông tin mà không phải yêu cầu khách hàng nộp giấy tờ.

Hạ tầng chứng thực điện tử quốc gia — liên quan tới việc kiểm tra hiệu lực chữ ký số. Điểm đ khoản 3 Điều 24 Luật Giao dịch điện tử 20/2023/QH15 cũng yêu cầu tổ chức cung cấp dịch vụ chứng thực chữ ký số chuyên dùng công vụ liên thông với tổ chức cung cấp dịch vụ chứng thực điện tử quốc gia để bảo đảm cho việc kiểm tra hiệu lực chữ ký số chuyên dùng công vụ.

Chiến lược hạ tầng số

Khoản 3 Điều 22 quy định: trong từng thời kỳ, Cơ quan quản lý nhà nước về chuyển đổi số xây dựng, trình Thủ tướng Chính phủ ban hành Chiến lược hạ tầng số, trong đó xác định các thành phần hạ tầng số, mục tiêu phát triển hạ tầng số, nhiệm vụ và giải pháp thực hiện.

Đây là văn bản doanh nghiệp nên theo dõi — nó cho biết hạ tầng nào sẽ được đầu tư và theo lộ trình nào, phục vụ việc lập kế hoạch sản phẩm.

Chiến lược hạ tầng số cũng được nhắc tới tại khoản 1 và khoản 2 Điều 23 về phát triển trung tâm dữ liệu: quy hoạch điện lực và bố trí quỹ đất cho trung tâm dữ liệu phải phù hợp với Quy hoạch hạ tầng thông tin và truyền thông, Chiến lược hạ tầng số và quy hoạch tỉnh.

Và tại điểm a khoản 3 Điều 24, quy định về công trình bắt buộc tích hợp thiết bị cảm biến cũng kèm lộ trình áp dụng phù hợp với Chiến lược hạ tầng số, các quy hoạch, chiến lược trong từng lĩnh vực.

Nền tảng số dùng chung — cánh cửa cho doanh nghiệp

Khoản 1 Điều 26 Luật 148/2025/QH15 giao Cơ quan quản lý nhà nước về chuyển đổi số chủ trì xây dựng, trình Thủ tướng Chính phủ ban hành tiêu chí, Danh mục nền tảng số dùng chung quốc gia trong các cơ quan thuộc hệ thống chính trị; công bố, ban hành tiêu chuẩn, quy chuẩn, yêu cầu kỹ thuật về nền tảng số dùng chung; đo lường và giám sát trực tuyến hoạt động vận hành, khai thác nền tảng số dùng chung.

Khoản 2 Điều 26 là khoản có ý nghĩa thị trường lớn nhất: các cơ quan trong hệ thống chính trị có trách nhiệm xây dựng, quản lý, vận hành các nền tảng số dùng chung theo hướng mở, linh hoạt; MỞ VÀ CÔNG BỐ CÔNG KHAI CÁC TIÊU CHUẨN, QUY CHUẨN KỸ THUẬT CHO PHÉP DOANH NGHIỆP CÙNG THAM GIA PHÁT TRIỂN, CUNG CẤP DỊCH VỤ TRÊN NỀN TẢNG SỐ.

Khoản 2 cũng nêu yêu cầu tránh trùng lặp, bảo đảm hiệu quả — nguyên tắc nhất quán với khoản 1 Điều 7 về thiết kế theo hướng sử dụng nền tảng số và các thành phần dùng chung, hạn chế trùng lặp.

Hệ thống số dùng chung quốc gia

Khoản 1 Điều 25 Luật 148/2025/QH15 quy định Nhà nước ưu tiên nguồn lực ngân sách nhà nước để đầu tư, phát triển các hệ thống số dùng chung quốc gia.

Khoản 2 Điều 25 mở cửa cho khu vực tư: Nhà nước khuyến khích tổ chức, doanh nghiệp tham gia phát triển, vận hành hệ thống số theo phương thức đối tác công tư trên cơ sở tuân thủ tiêu chuẩn kỹ thuật, quy chuẩn kỹ thuật.

Điều kiện kèm theo — tuân thủ tiêu chuẩn, quy chuẩn kỹ thuật — là điểm doanh nghiệp cần chuẩn bị trước. Kết hợp với khoản 1 Điều 33 về năm khung chuẩn bắt buộc (Khung kiến trúc tổng thể quốc gia số, Khung kiến trúc dữ liệu quốc gia, Khung quản trị, quản lý dữ liệu quốc gia, Từ điển dữ liệu dùng chung, tiêu chuẩn và quy chuẩn kỹ thuật), đây là bộ yêu cầu kỹ thuật cụ thể.

Nguyên tắc khai báo một lần

Toàn bộ tuyến hạ tầng dùng chung phục vụ một nguyên tắc nêu tại khoản 2 Điều 6: tăng cường kết nối, chia sẻ và sử dụng lại dữ liệu, KHAI BÁO MỘT LẦN LÀ MẶC ĐỊNH để nâng cao hiệu quả quản lý, hạn chế trùng lặp, giảm thủ tục và nâng cao năng lực ra quyết định.

Khoản 5 Điều 7 lặp lại trong nguyên tắc kiến trúc: lấy dữ liệu làm trung tâm; bảo đảm dữ liệu được thu thập, quản lý, chia sẻ và khai báo một lần là yêu cầu mặc định.

Với doanh nghiệp, nguyên tắc này có hai mặt:

  • Mặt thuận lợi — khi làm thủ tục hành chính, không phải nộp lại giấy tờ cơ quan nhà nước đã có. Khoản 3 Điều 41 Luật 20/2023/QH15 quy định cơ quan nhà nước không được thu thập, tổ chức thu thập lại dữ liệu hoặc yêu cầu tổ chức, cá nhân cung cấp lại dữ liệu mà cơ quan đó đang quản lý hoặc dữ liệu đó được cơ quan nhà nước khác sẵn sàng kết nối, chia sẻ, trừ bốn trường hợp ngoại lệ;
  • Mặt nghĩa vụ — điểm d khoản 1 Điều 16 Luật 148/2025/QH15 yêu cầu tổ chức phối hợp với cơ quan nhà nước trong việc xác thực, chia sẻ dữ liệu số và thực hiện các nghĩa vụ khác phục vụ chuyển đổi số.

Chống cát cứ dữ liệu

Khoản 5 Điều 5 Luật 148/2025/QH15 nghiêm cấm lợi dụng chức trách, quyền hạn để gây cản trở, phân biệt đối xử, tạo độc quyền, CÁT CỨ, hạn chế cạnh tranh trong phát triển, vận hành, khai thác hệ thống số.

Từ "cát cứ" hiếm gặp trong văn bản luật, và việc dùng nó ở đây cho thấy đây là vấn đề được nhận diện rõ — tình trạng mỗi đơn vị giữ riêng dữ liệu và hệ thống, khiến việc liên thông không thực hiện được.

Khoản 8 Điều 9 cũng nêu chính sách bảo đảm điều phối thống nhất giữa các Bộ, ngành, địa phương; hoàn thiện cơ chế, chính sách, tiêu chuẩn và quy chuẩn kỹ thuật phục vụ chuyển đổi số; TRÁNH PHÂN TÁN NGUỒN LỰC, TRÙNG LẶP hệ thống số, nền tảng số và dữ liệu số.

Doanh nghiệp chuẩn bị gì

  • Theo dõi Chiến lược hạ tầng số theo khoản 3 Điều 22 — cho biết hạ tầng nào sẽ có và khi nào;
  • Theo dõi Danh mục nền tảng số dùng chung quốc gia và tiêu chuẩn, quy chuẩn kỹ thuật công bố theo khoản 1 Điều 26;
  • Thiết kế sản phẩm theo chuẩn mở để tương thích khi kết nối với hạ tầng dùng chung;
  • Cân nhắc dùng hạ tầng định danh và xác thực điện tử thay vì tự xây — giảm chi phí và giảm rủi ro lưu trữ dữ liệu định danh;
  • Tìm hiểu cơ chế đối tác công tư theo khoản 2 Điều 25 nếu có năng lực tham gia phát triển, vận hành hệ thống dùng chung;
  • Chuẩn bị năng lực tuân thủ năm khung chuẩn tại khoản 1 Điều 33 — điều kiện tiên quyết để tham gia thị trường khu vực công;
  • Vận dụng khoản 3 Điều 41 Luật 20/2023/QH15 khi bị yêu cầu cung cấp lại dữ liệu mà cơ quan nhà nước đã có.

Luật 148/2025/QH15 có hiệu lực thi hành từ ngày 01/7/2026 theo khoản 1 Điều 47, nên giai đoạn từ nay tới đó là thời điểm hợp lý để chuẩn bị năng lực kỹ thuật.

Đọc thêm cùng chủ đề

Căn cứ pháp lý

  • Luật 148/2025/QH15 Điều 22
  • Luật 148/2025/QH15 Điều 26
  • Luật 148/2025/QH15 Điều 3

Bài viết dẫn chiếu văn bản đang có hiệu lực. Nội dung mang tính tham khảo, không thay thế ý kiến tư vấn cho từng trường hợp cụ thể.

Bình luận (0)

Chưa có bình luận nào. Hãy là người đầu tiên chia sẻ ý kiến.

Để lại bình luận

Email không hiển thị công khai.
Đánh giá