Trí tuệ nhân tạo

Theo Luật Trí tuệ nhân tạo 2025, doanh nghiệp nước ngoài cung cấp AI tại Việt Nam có chịu điều chỉnh?

Theo Luật Trí tuệ nhân tạo 2025, doanh nghiệp nước ngoài cung cấp AI tại Việt Nam có chịu điều chỉnh?
Có. Điều 2 nêu rõ Luật áp dụng đối với cơ quan, tổ chức, cá nhân Việt Nam VÀ tổ chức, cá nhân nước ngoài tham gia vào hoạt động trí tuệ nhân tạo tại Việt Nam.

Phần lớn hệ thống trí tuệ nhân tạo mà doanh nghiệp Việt Nam đang dùng đến từ nhà cung cấp nước ngoài. Câu hỏi tự nhiên: Luật Trí tuệ nhân tạo 134/2025/QH15 có ràng buộc họ không, hay chỉ ràng buộc bên sử dụng trong nước?

Đối tượng áp dụng — Điều 2

Điều 2 Luật 134/2025/QH15 quy định ngắn gọn: Luật này áp dụng đối với cơ quan, tổ chức, cá nhân Việt Nam và tổ chức, cá nhân nước ngoài tham gia vào hoạt động trí tuệ nhân tạo tại Việt Nam.

Hai nhóm đối tượng:

  • Cơ quan, tổ chức, cá nhân Việt Nam;
  • Tổ chức, cá nhân nước ngoài tham gia vào hoạt động trí tuệ nhân tạo tại Việt Nam.

Yếu tố quyết định với nhóm thứ hai là tham gia vào hoạt động trí tuệ nhân tạo tại Việt Nam, không phải nơi đăng ký hay nơi đặt trụ sở.

Hoạt động trí tuệ nhân tạo gồm những gì — Điều 1

Khoản 1 Điều 1 xác định phạm vi điều chỉnh: Luật này quy định về nghiên cứu, phát triển, cung cấp, triển khai và sử dụng hệ thống trí tuệ nhân tạo (sau đây gọi là hoạt động trí tuệ nhân tạo); quyền, nghĩa vụ của tổ chức, cá nhân có liên quan và quản lý nhà nước đối với hoạt động trí tuệ nhân tạo tại Việt Nam.

Năm loại hoạt động được nêu: nghiên cứu, phát triển, cung cấp, triển khai, sử dụng.

Từ cung cấp là từ khóa với doanh nghiệp nước ngoài. Một tổ chức nước ngoài đưa hệ thống trí tuệ nhân tạo ra thị trường Việt Nam là đang thực hiện hoạt động cung cấp — và theo khoản 4 Điều 3, đó là vai nhà cung cấp: tổ chức, cá nhân đưa hệ thống trí tuệ nhân tạo ra thị trường hoặc đưa vào sử dụng dưới tên, thương hiệu hoặc nhãn hiệu của mình, không phụ thuộc hệ thống đó do họ tự phát triển hay được phát triển bởi bên thứ ba.

Ngoại lệ về quốc phòng, an ninh, cơ yếu — khoản 2 Điều 1

Khoản 2 Điều 1 quy định: hoạt động trí tuệ nhân tạo chỉ phục vụ cho mục đích quốc phòng, an ninh, cơ yếu không thuộc phạm vi điều chỉnh của Luật này.

Chú ý từ "chỉ": ngoại lệ áp dụng cho hoạt động chỉ phục vụ ba mục đích đó. Một hệ thống có mục đích sử dụng kép — vừa phục vụ quốc phòng vừa dùng cho mục đích dân sự — không thuộc ngoại lệ.

Hàm ý thực tế với doanh nghiệp Việt Nam

Việc doanh nghiệp nước ngoài cũng thuộc phạm vi điều chỉnh có ý nghĩa thực tế theo hai hướng.

Hướng thứ nhất — cơ sở đàm phán hợp đồng

Doanh nghiệp Việt Nam giữ vai bên triển khai khi sử dụng hệ thống của nhà cung cấp nước ngoài. Theo khoản 2 Điều 10, bên triển khai được kế thừa kết quả phân loại của nhà cung cấp — nhưng chỉ khi nhà cung cấp có thực hiện phân loại.

Vì nhà cung cấp nước ngoài cũng chịu điều chỉnh của Luật, doanh nghiệp Việt Nam có căn cứ để yêu cầu:

  • Kết quả phân loại rủi ro của hệ thống theo Điều 9;
  • Xác nhận đã thông báo cho Bộ Khoa học và Công nghệ nếu thuộc nhóm rủi ro trung bình hoặc cao theo khoản 3 Điều 10;
  • Kết quả đánh giá sự phù hợp nếu là hệ thống rủi ro cao theo Điều 13;
  • Tài liệu phục vụ trách nhiệm giải trình ở mức mô tả chức năng;
  • Cơ chế đánh dấu nội dung ở định dạng máy đọc theo khoản 2 Điều 11;
  • Cam kết thông báo khi có thay đổi làm phát sinh rủi ro mới hoặc rủi ro cao hơn.

Hướng thứ hai — nghĩa vụ vẫn thuộc về bên triển khai

Việc nhà cung cấp nước ngoài chịu điều chỉnh không làm mất nghĩa vụ của doanh nghiệp Việt Nam. Bên triển khai vẫn phải:

  • Bảo đảm an toàn, nguyên vẹn của hệ thống trong quá trình sử dụng theo khoản 2 Điều 10;
  • Thực hiện nghĩa vụ minh bạch theo khoản 3 và khoản 4 Điều 11;
  • Ghi nhận, thông báo sự cố theo điểm b khoản 2 Điều 12;
  • Thực hiện trách nhiệm giải trình theo Điều 14 hoặc Điều 15 tùy mức rủi ro.

Và quan trọng nhất: theo khoản 2 Điều 29, với hệ thống rủi ro cao được quản lý, vận hành, sử dụng đúng quy định nhưng vẫn phát sinh thiệt hại thì bên triển khai phải chịu trách nhiệm bồi thường cho người bị thiệt hại, sau đó mới yêu cầu nhà cung cấp hoàn trả nếu có thỏa thuận giữa các bên.

Mệnh đề cuối là lý do thực tế nhất để đưa điều khoản hoàn trả vào hợp đồng với nhà cung cấp nước ngoài ngay từ đầu.

Hạ tầng dữ liệu trong nước — Điều 17

Một trong những cách giảm phụ thuộc vào nhà cung cấp nước ngoài là phát triển năng lực trong nước. Điều 17 Luật 134/2025/QH15 quy định về cơ sở dữ liệu phục vụ trí tuệ nhân tạo.

Khoản 2 Điều 17 quy định Cơ sở dữ liệu quốc gia về trí tuệ nhân tạo do Nhà nước đầu tư, xây dựng và vận hành tại Trung tâm dữ liệu quốc gia; được tổ chức theo nguyên tắc mở, an toàn, có kiểm soát; bao gồm dữ liệu mở, dữ liệu mở có điều kiện và dữ liệu thương mại.

Khoản 4 Điều 17 quy định: cơ sở dữ liệu của tổ chức, cá nhân phục vụ trí tuệ nhân tạo được khuyến khích chia sẻ với cơ quan nhà nước và tổ chức, cá nhân khác theo cơ chế thỏa thuận; việc chia sẻ phải tuân thủ pháp luật về dữ liệu, bảo vệ dữ liệu cá nhân và sở hữu trí tuệ, bảo đảm quyền và lợi ích hợp pháp của các bên.

Khoản 5 Điều 17 quy định Thủ tướng Chính phủ ban hành Danh mục bộ dữ liệu phục vụ phát triển trí tuệ nhân tạo trong các lĩnh vực thiết yếu, ưu tiên dữ liệu văn hóa, ngôn ngữ tiếng Việt và tiếng dân tộc thiểu số, dữ liệu thủ tục hành chính, y tế, giáo dục, nông nghiệp, môi trường, giao thông, kinh tế - xã hội.

Làm chủ công nghệ cốt lõi — Điều 18

Khoản 1 Điều 18 Luật 134/2025/QH15 nêu định hướng: Nhà nước ưu tiên phát triển và làm chủ các công nghệ trí tuệ nhân tạo cốt lõi; ưu tiên nguồn lực cho nghiên cứu, phát triển mô hình trí tuệ nhân tạo đa dụng, mô hình ngôn ngữ lớn tiếng Việt và tiếng dân tộc thiểu số, công nghệ xử lý tri thức Việt Nam, năng lực tính toán và công nghệ huấn luyện hiệu năng cao, phần cứng và bán dẫn phục vụ trí tuệ nhân tạo; thúc đẩy phát triển và ứng dụng mã nguồn mở nhằm tăng cường tự chủ công nghệ, an toàn và chủ quyền quốc gia trên môi trường số.

Việc nêu tên mã nguồn mở như một công cụ tự chủ công nghệ là điểm đáng chú ý — nó phù hợp với thực tế rằng nhiều mô hình nền tảng hiện nay có phiên bản mã nguồn mở đủ tốt cho nhiều ứng dụng.

Khoản 2 Điều 18 quy định Nhà nước hỗ trợ tổ chức, cá nhân phát triển mô hình, thuật toán, phần mềm, phần cứng và các công nghệ nền tảng; khuyến khích giải pháp tiết kiệm tài nguyên, dễ triển khai và phù hợp điều kiện Việt Nam; phát triển năng lực nội sinh quốc gia; tăng cường hợp tác công tư để làm chủ công nghệ.

Khoản 3 Điều 18 quy định: tổ chức, cá nhân nghiên cứu, phát triển và làm chủ công nghệ trí tuệ nhân tạo cốt lõi được hưởng chính sách ưu đãi và hỗ trợ đặc thù theo quy định của pháp luật.

Với doanh nghiệp Việt Nam, hai hướng có thể cân nhắc: phát triển giải pháp trên nền mô hình mã nguồn mở để giảm phụ thuộc, và tận dụng chính sách ưu đãi tại khoản 3 Điều 18 khi làm chủ công nghệ cốt lõi.

Đọc thêm cùng chủ đề

Căn cứ pháp lý

  • Luật 134/2025/QH15 Điều 2
  • Luật 134/2025/QH15 Điều 1
  • Luật 134/2025/QH15 Điều 3

Bài viết dẫn chiếu văn bản đang có hiệu lực. Nội dung mang tính tham khảo, không thay thế ý kiến tư vấn cho từng trường hợp cụ thể.

Bình luận (0)

Chưa có bình luận nào. Hãy là người đầu tiên chia sẻ ý kiến.

Để lại bình luận

Email không hiển thị công khai.
Đánh giá