Có. Khoản 1 Điều 44 quy định cơ quan nhà nước phải bảo đảm kết quả giải quyết thủ tục hành chính không thuộc bí mật nhà nước đều có văn bản điện tử có giá trị pháp lý như văn bản giấy.
Với doanh nghiệp thường xuyên làm thủ tục hành chính, Điều 44 Luật Giao dịch điện tử 20/2023/QH15 là điều có tác động thực tế trực tiếp — nó đặt nghĩa vụ cung cấp bản điện tử của kết quả thủ tục.
Nghĩa vụ về bản điện tử — khoản 1 Điều 44
Khoản 1 Điều 44 quy định: cơ quan nhà nước phải bảo đảm kết quả giải quyết thủ tục hành chính hoặc kết quả hoạt động công vụ khác không thuộc phạm vi bí mật nhà nước đều có văn bản điện tử có giá trị pháp lý như văn bản giấy, có thể truy cập và sử dụng được dưới dạng hoàn chỉnh.
Ba yêu cầu trong một câu:
- Phải có văn bản điện tử — không phải tùy chọn;
- Có giá trị pháp lý như văn bản giấy;
- Có thể truy cập và sử dụng được dưới dạng hoàn chỉnh — cùng tiêu chí với khoản 2 Điều 10 về thông điệp dữ liệu có giá trị như bản gốc.
Ngoại lệ duy nhất: kết quả thuộc phạm vi bí mật nhà nước.
Khoản 1 còn quy định: cơ quan nhà nước phải tiếp nhận, giải quyết yêu cầu của tổ chức, cá nhân trên môi trường điện tử, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác.
Như vậy nghĩa vụ tồn tại ở cả hai chiều: tiếp nhận yêu cầu điện tử, và trả kết quả điện tử.
Ý nghĩa với doanh nghiệp
Bản điện tử của giấy phép, giấy chứng nhận, kết quả thủ tục có giá trị pháp lý như bản giấy nghĩa là doanh nghiệp có thể:
- Lưu trữ điện tử thay vì lưu bản giấy — theo Điều 13, việc lưu trữ thông điệp dữ liệu có giá trị như lưu trữ văn bản giấy;
- Sử dụng bản điện tử trong các giao dịch tiếp theo;
- Gửi bản điện tử cho đối tác thay vì phải sao y bản giấy.
Điều này kết nối với điểm b khoản 3 Điều 40: dữ liệu chủ trong cơ sở dữ liệu quốc gia có giá trị sử dụng chính thức, tương đương văn bản giấy được cơ quan có thẩm quyền cung cấp.
Bốn lĩnh vực ưu tiên toàn trình — khoản 2
Khoản 2 Điều 44 quy định các lĩnh vực hoạt động của cơ quan nhà nước ưu tiên thực hiện toàn trình trên môi trường điện tử:
- Cung cấp dịch vụ công;
- Công tác quản trị nội bộ;
- Chỉ đạo, điều hành;
- Giám sát, kiểm tra, thanh tra.
Bốn lĩnh vực này về sau được nhắc lại tại khoản 1 Điều 31 Luật Chuyển đổi số 148/2025/QH15 với mức độ ràng buộc cao hơn: cơ quan nhà nước có trách nhiệm thực hiện cung cấp dịch vụ công, công tác quản trị nội bộ, chỉ đạo, điều hành, giám sát, kiểm tra thực hiện toàn trình trên môi trường số.
Việc chuyển từ "ưu tiên" (Luật 20/2023) sang "có trách nhiệm" (Luật 148/2025) cho thấy sự nâng cấp về mức độ yêu cầu qua hai năm.
Phương án dự phòng — khoản 3
Khoản 3 Điều 44 quy định: cơ quan nhà nước phải sẵn sàng phương án trong tình huống khẩn cấp, trong tình huống xảy ra sự cố gián đoạn hoạt động trên môi trường mạng trực tuyến và phương án ứng cứu, khắc phục sự cố, duy trì hoạt động giao dịch bình thường.
Yêu cầu này có ý nghĩa thực tế: khi mọi hoạt động chuyển lên môi trường điện tử, một sự cố hệ thống có thể làm đình trệ toàn bộ hoạt động. Phương án dự phòng là điều kiện để việc chuyển đổi không tạo ra rủi ro mới.
Yêu cầu tương tự xuất hiện tại khoản 5 Điều 8 Luật 148/2025/QH15: hệ thống số và dịch vụ số phải duy trì mức độ sẵn sàng hoạt động tối thiểu; có phương án dự phòng và chuyển đổi dự phòng để bảo đảm hoạt động thông suốt đối với hệ thống quan trọng hoặc dịch vụ thiết yếu.
Cơ chế thuê chuyên gia — khoản 4
Khoản 4 Điều 44 quy định: cơ quan nhà nước được thuê chuyên gia từ ngân sách nhà nước hằng năm theo quy định của pháp luật để tư vấn xây dựng cơ sở dữ liệu; thực hiện các hoạt động chuyên môn kỹ thuật về quản lý, vận hành, bảo đảm an toàn thông tin mạng cho hệ thống thông tin phục vụ giao dịch điện tử của cơ quan nhà nước.
Đây là cơ sở pháp lý cho doanh nghiệp và chuyên gia độc lập cung cấp dịch vụ tư vấn, vận hành cho khu vực công. Ba nhóm công việc được nêu:
- Tư vấn xây dựng cơ sở dữ liệu;
- Quản lý, vận hành hệ thống;
- Bảo đảm an ninh cho hệ thống thông tin phục vụ giao dịch điện tử.
Cơ chế này được mở rộng thêm tại điểm a khoản 2 Điều 18 Luật 148/2025/QH15, nơi cho phép cơ quan nhà nước, doanh nghiệp nhà nước chủ động lựa chọn hình thức và thời hạn giao kết với các nhân sự và chuyên gia trong nước, nước ngoài.
Ba loại hình giao dịch điện tử của cơ quan nhà nước — Điều 39
Điều 39 Luật 20/2023/QH15 phân loại:
- Khoản 1 — giao dịch điện tử trong nội bộ cơ quan nhà nước;
- Khoản 2 — giao dịch điện tử giữa các cơ quan nhà nước với nhau;
- Khoản 3 — giao dịch điện tử giữa cơ quan nhà nước với cơ quan, tổ chức, cá nhân.
Nhóm thứ ba là nhóm doanh nghiệp trực tiếp tham gia. Nhóm thứ hai gián tiếp ảnh hưởng tới doanh nghiệp qua tốc độ giải quyết thủ tục liên thông.
Chia sẻ dữ liệu phục vụ quản lý — Điều 48
Khoản 1 Điều 48 quy định cơ quan nhà nước quản lý công tác báo cáo, tổng hợp, chia sẻ dữ liệu phục vụ quản lý nhà nước về giao dịch điện tử theo quy định của pháp luật, phù hợp với chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn được phân công.
Khoản 2 Điều 48 giao cơ quan có thẩm quyền thiết lập, vận hành hệ thống tiếp nhận, tổng hợp dữ liệu phục vụ quản lý nhà nước về giao dịch điện tử; chủ trì xây dựng, ban hành hoặc đề nghị ban hành quy định về kỹ thuật đối với mô hình tham chiếu kết nối phục vụ chia sẻ dữ liệu bằng phương tiện điện tử, định danh thiết bị, tiêu chí tín nhiệm mạng của hệ thống thông tin phục vụ giao dịch điện tử.
Ba nội dung kỹ thuật được nêu đáng theo dõi với doanh nghiệp vận hành hệ thống giao dịch điện tử:
- Mô hình tham chiếu kết nối — chuẩn để hệ thống kết nối được với nhau;
- Định danh thiết bị;
- Tiêu chí tín nhiệm mạng của hệ thống thông tin phục vụ giao dịch điện tử.
Tiêu chí tín nhiệm mạng là khái niệm đáng chú ý — nó có thể trở thành một dạng chứng nhận về độ tin cậy của hệ thống, có giá trị thương mại với doanh nghiệp cung cấp dịch vụ giao dịch điện tử.
Doanh nghiệp nên làm gì
- Yêu cầu bản điện tử của kết quả thủ tục theo khoản 1 Điều 44 — và lưu trữ điện tử thay vì lưu bản giấy;
- Chuyển sang nộp hồ sơ trực tuyến — cơ quan nhà nước có nghĩa vụ tiếp nhận, giải quyết yêu cầu trên môi trường điện tử;
- Vận dụng khoản 3 Điều 41 Luật 20/2023/QH15 khi bị yêu cầu cung cấp lại dữ liệu mà cơ quan nhà nước đã có;
- Với doanh nghiệp công nghệ, khoản 4 Điều 44 là căn cứ để tham gia cung cấp dịch vụ tư vấn, vận hành cho khu vực công;
- Theo dõi các quy định kỹ thuật tại khoản 2 Điều 48 nếu vận hành hệ thống giao dịch điện tử.
Một lưu ý: Luật Giao dịch điện tử 20/2023/QH15 có hiệu lực từ 01/7/2024 và đã được sửa đổi một số nội dung bởi các đạo luật ban hành sau, trong đó có Điều 43 Luật An ninh mạng 116/2025/QH15. Khi tra cứu nên dùng bản hợp nhất.
Đọc thêm cùng chủ đề
- Hệ thống thông tin được phân loại mấy cấp độ?
- Hành vi nào bị nghiêm cấm về an ninh mạng?
- Chủ quản hệ thống thông tin phải làm những gì?
Căn cứ pháp lý
- Luật 20/2023/QH15 Điều 44
- Luật 20/2023/QH15 Điều 39
- Luật 20/2023/QH15 Điều 48
Bài viết dẫn chiếu văn bản đang có hiệu lực. Nội dung mang tính tham khảo, không thay thế ý kiến tư vấn cho từng trường hợp cụ thể.
Bình luận (0)
Chưa có bình luận nào. Hãy là người đầu tiên chia sẻ ý kiến.